Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017
Tháng cô hồn và cúng tế thập loại chúng sinh
THÁNG CÔ HỒN VÀ CÚNG TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH
Chiều nay, mới mồng 1 tháng 7 âm lịch, trên dọc đường đi làm về, tôi đã thấy dân chúng nhiều nhà bày mâm cháo, gạo, muối, vàng mã cúng lễ la liệt trước cửa nhà. Từ thuở bé tôi được nghe cha mẹ dạy rằng tháng 7 là tháng cô hồn, trong tháng này, Diêm chúa mở cửa địa ngục cho các cô hồn lên trần gian kiếm bát cháo, manh áo cho đỡ đói lòng. Đại thi hào Nguyễn Du còn tả trong truyện Kiều 1 đoạn thật lâm ly bi đát về cảnh những cô hồn vất vưởng đói khát, những người làm sách cúng bái còn bệ nguyên cả đoạn đó vào trong sách dưới tựa đề "văn tế cô hồn thập loại chúng sinh", khơi gợi sự thương cảm đến mê muội của đại chúng. Thế rồi nhà nhà cháo loãng, gạo muối, bỏng ngô, bỏng gạo, quần áo mũ mão bằng giấy mã... cổng này vương 1 chút cháo, cửa kia gạo muối phủ đầy, không gian chỗ nào cũng đậm mùi hương khói của hương và vàng mã... Từ bé tôi chỉ thấy cảnh người trần làm như vậy chứ chưa bao giờ thấy cảnh cô hồn tranh nhau bát cháo, manh áo miếng quần. Rồi khi lớn lên, tôi vẫn giữ nguyên sự thắc mắc từ thuở thiếu thời "Liệu họ có nhận được không? Họ là ai? Hình thù tướng mạo ra sao? Họ sống ở đâu, sống thế nào? Ai có thể giải nghi này giúp tôi?" Thời gian cứ trôi đi và câu hỏi vẫn đậm lên cùng những ngày lễ của tháng cô hồn, dâng sao giải hạn...
Thế rồi sau gần nửa cuộc đời, tôi đã tìm được lời giải đáp, hiểu về các hạng chúng sinh và các cõi.. Thật khác xa so với những gì đã từng được dạy.
Trước tiên, ta phải hiểu đúng về khái niệm "chúng sinh", chúng sinh là gì? có bao nhiêu loại? cư ngụ ở đâu? Hình hài thế nào?
Tất cả chúng sinh có 4 loài:
- Loài thai sinh là chúng sinh tái sinh trong thai của mẹ như loài người, loài gia súc: Trâu, bò, chó, mèo,…
- Loài noãn thai là chúng sinh trong trứng, rồi từ trứng nở ra con như: Con gà, con vịt, con chim,…
- Loài thấp sinh là chúng sinh tái sinh nơi ẩm thấp như dưới đất, trong vũng nước: Con giun, con sán, con dòi,…
Ba loài chúng sinh này sau khi đã tái sinh, kiếp hiện hữu theo thời gian dần dần tăng trưởng lớn lên.
- Loài hóa sinh là chúng sinh hóa sinh ra có thân hình đầy đủ các bộ phận lớn nhỏ ngay tức khắc, mà không cần chờ đợi thời gian tăng trưởng. Đó là những hạng chúng sinh như sau:
Con người đầu tiên hóa sinh hiện ra trên trái đất (không có cha mẹ).
Chư thiên trong 6 cõi trời dục giới.
Chư Phạm thiên trong 16 cõi trời sắc giới.
Chư Phạm thiên trong 4 cõi trời vô sắc giới (Phạm thiên trong cõi trời vô sắc giới không có thân, chỉ có tâm mà thôi).
Chúng sinh trong các cõi địa ngục.
Chúng sinh là các hạng atula.
Chúng sinh là các hạng ngạ quỷ.
Tất cả các loài chúng sinh này đều thuộc về loài hóa sinh.
Chúng sinh này cư ngụ trong tam giới gồm 31 cõi từ thấp lên cao gồm:
- 11 cõi dục giới:
4 cõi ác giới gồm: Cõi địa ngục, cõi atula, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh. Những cõi này có tuổi thọ không nhất định
7 cõi thiện dục giới gồm:
+ Cõi người có tuổi thọ không nhất định.
+ Cõi trời Tứ Đại Thiên Vương có tuổi thọ 500 năm trời, bằng 9 triệu năm cõi người (bởi vì 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 50 năm cõi người)
+ Cõi trời Tam Thập Tam Thiên có tuổi thọ 1.000 năm trời, bằng 36 triệu năm cõi người (bởi vì 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 100 năm cõi người)
+ Cõi trời Dạ Ma Thiên có tuổi thọ 2.000 tuổi trời, bằng 144 triệu năm cõi người (bởi vì 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 200 năm cõi người)
+ Cõi trời Đẩu Xuất Đà Thiên có tuổi thọ 4.000 tuổi trời, bằng 576 triệu năm cõi người (bởi vì 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 400 năm cõi người)
+ Cõi trời Hóa Lạc Thiên có tuổi thọ 8.000 tuổi trời, bằng 2.304 triệu năm cõi người (bởi vì 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 800 năm cõi người)
+ Cõi trời Tha Hóa Tự Tại Thiên có tuổi thọ 16.000 tuổi trời, bằng 9.216 triệu năm cõi người (bởi vì 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 1.600 năm cõi người)
- 20 cõi còn lại gồm 16 cõi trời sắc giới và 4 cõi vô sắc giới sẽ miễn đề cập ở đây để tránh lạc xa chủ đề.
Ngoại trừ 5 cõi trời Tịnh Cư Thiên chỉ dành cho các bậc Thánh Bất Lai chứng đắc đệ tứ thiền hữu sắc ra, còn lại 26 cõi khác trong tam giới, chúng sinh đều đã từng tái sinh trong các cõi ấy; nhưng có lẽ cõi mà chúng sinh tái sinh nhiều lần, nhiều kiếp nhất đó là 4 cõi ác giới: Địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh, vì do chúng sinh còn có vô minh tối tăm, vì chưa chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, còn có tham ái như sợi dây cột cổ dẫn dắt tái sinh kiếp nhỏ, kiếp lớn trong vòng tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài từ vô thủy không sao biết được.
Trong bài kinh Aññasutta ( Saṃyuttanikāya. Mahāvagga, Saccasamyutta) có ghi:
“Một thuở nọ, Đức Thế Tôn lấy một ít hạt cát đặt trên đầu móng tay, rồi Ngài gọi chư Tỳ khưu dạy rằng:
- Này chư Tỳ khưu, các con nhận thức thế nào về điều này. Số lượng hạt cát đang đặt trên đầu móng tay của Như Lai so với số lượng hạt cát trên trái đất này, số hạt cát nơi nào nhiều hơn?
Chư Tỳ khưu bạch rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, số hạt cát trên trái đất quá nhiều, vô lượng không sao đếm được; còn số hạt cát được đặt trên đầu móng tay của Đức Thế Tôn chỉ là một số ít ỏi mà thôi. Số hạt cát trên trái đất nhiều gấp vô số lần, còn số hạt cát được đặt trên đầu móng tay của Đức Thế Tôn thật quá ít, không đáng kể, không đáng so sánh, chỉ là một phần nhỏ li ti mà thôi.
- Này chư Tỳ khưu, cũng như vậy, chúng sinh sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả được tái sinh làm người chỉ là số quá ít. Sự thật, ngoài tái sinh làm người ra, chúng sinh sau khi chết, do nghiệp cho quả tái sinh làm các loại chúng sinh khác thì quá nhiều”.
Tương tự như bài kinh Aññasutta trên, các bài kinh tiếp theo Đức Thế Tôn xác định rõ từng mỗi loài chúng sinh. Nội dung chính của mỗi bài kinh như sau:
“Cũng như vậy, loài người sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả được tái sinh làm người quá ít. Sự thật, loài người sau khi chết, do ác nghiệp cho quả tái sinh làm chúng sinh trong địa ngục, … thì quá nhiều.
Cũng như vậy, loài người sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả được tái sinh làm người chỉ là quá ít. Sự thật, loài người sau khi chết, do ác nghiệp cho quả tái sinh làm loài atula, làm loài ngạ quỷ, làm loài súc sinh,… thì quá nhiều.
Cũng như vậy, loài người sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sinh làm chư thiên trong các cõi trời dục giới; làm phạm thiên trong cõi trời sắc giới, trong cõi trời vô sắc giới số quá ít. Sự thật, loài người sau khi chết, do ác nghiệp cho quả tái sinh làm chúng sinh trong cõi địa ngục, làm loài ngạ quỷ, làm loài atula, làm loài súc sinh, … thì quá nhiều.
Cũng như vậy, chư thiên sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sinh trở lại làm chư thiên, hoặc làm người trong cõi người quá ít. Sự thật, chư thiên sau khi chết, do ác nghiệp cho quả tái sinh làm chúng sinh trong cõi địa ngục, làm loài ngạ quỷ, làm loài atula, làm loài súc sinh, … thì quá nhiều.
Cũng như vậy, chúng sinh trong cõi địa ngục mãn nghiệp, sau khi chết do thiện nghiệp cho quả tái sinh làm người trong cõi người, hoặc làm chư thiên trong các cõi trời dục giới số quá ít. Sự thật, chúng sinh trong cõi địa ngục mãn nghiệp, sau khi chết do ác nghiệp cho quả tái sinh làm chúng sinh trong cõi địa ngục nhỏ, làm loài ngạ quỷ, làm loài atula, làm loài súc sinh, … thì quá nhiều.
Cũng như vậy, chúng sinh loài súc sinh, sau khi chết do thiện nghiệp cho quả tái sinh làm người trong cõi người, hoặc làm chư thiên trong các cõi trời dục giới số quá ít. Sự thật, chúng sinh loài súc sinh, sau khi chết do ác nghiệp cho quả tái sinh trở lại làm loài súc sinh, làm chúng sinh trong cõi địa ngục, làm loài atula, làm loài ngạ quỷ, … thì quá nhiều.
Cũng như vậy, chúng sinh loài ngạ quỷ, sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sinh làm người trong cõi người, hoặc làm chư thiên trong các cõi trời dục giới số quá ít. Sự thật, chúng sinh loài ngạ quỷ, sau khi chết do ác nghiệp cho quả tái sinh trở lại làm loài ngạ quỷ, làm chúng sinh trong cõi địa ngục, làm loài atula, làm loài súc sinh, … thì quá nhiều”…
Từ những kiến thức Pháp học trên, tôi bắt đầu hình dung và phá giải mối nghi rằng: chúng sinh hiện hữu ta nhìn thấy được gồm 3 hạng là thai sinh, noãn sinh và thấp sinh do những loài này có đủ cả thân tứ đại vật chất (phần sắc) và phần tâm thức (danh). Những hạng chúng sinh này do có thân sắc tứ đại nên cũng dùng vật thực có nguồn gốc từ tứ đại (gồm đất, nước, gió, lửa). Còn loại chúng sinh hóa sinh thì do chỉ có phần danh mà không có tứ đại nên ta không nhìn thấy được. Họ do vậy cũng không dùng các loại vật thực có nguồn thô lậu từ tứ đại được. Vậy vãi cháo, rắc gạo muối thì ai sẽ nhận được? Chắc chắn chỉ có loài súc sinh và thấp sinh như chuột bọ, gián, giun trùn, kiến.. được hưởng (Nếu có chúng sinh "cô hồn" là thân quyến của ta và nhận được phần vật thực bố thí đó thì mâm cháo ngay trước mắt ta phải hết phần ruột chỉ còn vật đựng thôi chứ? Nhưng loài hóa sinh do không có thân tứ đại nên ngắt 1 chiếc lá cũng không được, huống chi bắt họ húp cả bát cháo?)
Thế còn vàng mã? Hóa vàng mã thì ai hưởng? Kẻ hưởng ở đây có chăng chỉ là những người buôn bán vàng mã mà thôi. chỉ vài tờ giấy màu, vài khung tre và 1 chút khéo léo là họ đã kiếm được siêu lợi nhuận rồi. Việc họ làm là làm, việc ai mua là mua. Họ sẽ viện lý do là tại sản phẩm đẹp, làm hàng "thửa" nên tất nhiên là giá sẽ cao. Rồi theo yêu cầu của những người luôn bận bịu với cơm áo gạo tiền, những phút giây hiếm hoi nhớ đến công dưỡng dục sinh thành của mẹ cha, liền tạt qua hàng vàng mã để "đắt cũng mua cho mẹ cha" mà họ đâu hiểu rằng những thứ họ mua chỉ sinh lời cho những kẻ đó, còn hương linh quá vãng đâu được hưởng gì từ mấy món giả tạo và u mê đó?
Vậy thầy tổ, ông bà, cha mẹ, anh em thân bằng quyến thuộc, bạn hữu của ta khi xả bỏ cõi này thì họ sẽ tái sinh ở cõi nào? Ở đây xin được không nhắc đến từ "chết" bởi theo quan niệm của tôi thì "chết" có nghĩa là hết, là không phải tái sinh trở lại nữa. Chỉ có các Bậc đã đoạn tận lâu hoặc, cắt lìa vòng sinh tử luân hồi, tịch diệt vào cảnh Niết Bàn tối thượng mới gọi là "chết". Còn chúng ta do những điều Đức Phật đã thuyết trong bài Kinh trên thì sự chấm dứt trong cõi này sẽ chính là sự tái sinh ngay trong cõi khác, cõi đó là thiện giới hay ác giới cõi đó là thiện giới hay ác giới còn tuỳ vào nghiệp lực ta đã tạo trữ. Nghĩa là chúng sinh có thể đi tái sinh cảnh mới trong 11 cõi dục giới này chứ không phải là ta chết ở cõi trần gian xong thì sẽ trở thành ma, thành thánh ở nghĩa trang hay dưới âm phủ, hay ở miếu đền nào hết. Do vậy chẳng có cõi nào "trần sao âm vậy" để tưởng tượng ra là dưới âm phủ, cha ta vẫn làm kỹ sư, mẹ ta vẫn đang cày ruộng... rồi hóa vàng cúng ông ấy 1 chiếc xe hơi để đi lại, lại không quên hóa luôn cả 1 cây xăng bằng vàng mã kèm theo. Nếu chúng sinh đi tái sinh cảnh mới tùy theo nghiệp của mình đã tạo trữ thì ai sẽ là người chọn các cõi sẽ đến ngoài chính chúng sinh đó? Ai sẽ "mở ngục" để đi cảnh an vui ngoài chính chúng sinh đó?
Xin trích dẫn thêm trong Uparipaṇṇāsa Chánh Tạng và Atthakathā: Tất cả nhân loại đang sống trong cõi đời này, thường có tính sai biệt như người sống thiện hạnh, người sống ác hạnh, tâm tính đa dạng, nơi đây chỉ tóm tắt 4 loại tương xứng với sở hành của mọi người là:
1. Một số người trong thế gian này thích hành thiện.
2. Có một số người trong thế gian này vừa hành thiện cũng vừa hành ác.
3. Có một số người trong thế gian này thường hành ác hơn hành thiện.
4. Có một số người trong thế gian này chỉ chuyên về hành ác.
Cả bốn hạng người này, hạng thứ nhất trong lúc lâm chung thường nhớ đến việc thiện mà mình làm, do đó hạng người này thoát khỏi bốn cõi khổ.
Còn hạng người thứ hai, nếu không tự mình nhớ tưởng đến điều thiện được, có thân quyến nhắc nhở cho nhớ được điều thiện đã làm, cũng có thể giúp cho thoát khỏi khổ cảnh được. Ngoại trừ người ấy, tự mình không nhớ đến điều thiện mà mình đã làm, và cũng không có người thân nào nhắc nhở cho mà chỉ mang nỗi buồn phiền hay hối tiếc. Với tâm trạng như thế, người ấy sẽ không thoát khỏi khổ cảnh được.
Còn hạng người thứ ba, do tự mình tạo bất thiện nghiệp nhiều hơn thiện nghiệp, cho nên khó tưởng đến điều thiện, ngoại trừ nhận được sự giúp đở của người khác, mà người giúp đỡ này phải hết sức khéo léo, thì người ấy mới có thể thoát khỏi khổ cảnh được, nếu chỉ là sự giúp đỡ thông thường thì người ấy không thể an trú trong điều thiện được, khi ấy hạng người này chắc chắn rơi vào khổ cảnh.
Còn hạng người thứ tư, thường không thoát khỏi khổ cảnh, ngoại trừ Đức Chánh Đẳng Giác, bậc Thượng Thanh Văn hoặc bậc Đại Thanh Văn mới giúp đỡ được, và muốn nhận được sự giúp đpữ từ các vị ấy, người đó phải có Kusala aparāpariyavedaniyakamma "nghiệp có mãnh lực nhiều, tức là thiện nghiệp mà mình thường tạo trong đời quá khứ".
Nếu hạng người này rơi vào Địa ngục, liền rơi thẳng xuống địa ngục, chứ không có dịp gặp Diêm Vương để thẩm vấn.
Còn hạng người thứ hai và thứ ba, nếu bị rơi vào địa ngục, cũng có cơ hội được gặp Diêm Vương, để Diêm chúa sẽ thẩm vấn, gạn hỏi đến 5 vị Thiên Sứ, rồi sau đó mới đi chịu cảnh thọ khổ trong các địa ngục ấy.
Sau khi người ấy rơi xuống Địa ngục, các cai ngục sẽ dẫn người ấy đến gặp Diêm Vương. Câu hỏi của Diêm Vương về 5 vị Thiên Sứ là:
1. Thiên sứ thứ nhất là sự sinh, sự chào đời của đứa bé.
2. Thiên sứ thứ hai là sự già, tức người già (sống trên đời hay có mặt trên cõi người).
3. Thiên sứ thứ ba là bệnh tật, tức là người bệnh có hiện hữu trên cõi nhân loại.
4. Thiên sứ thứ tư là sự chết, tức là người chết. Sự hiện hữu hiện tượng chết trên cõi nhân loại.
5. Thiên sứ thứ năm là người bị hành tội, tức sự hành hình của pháp luật ở trong nước chẳng hạn như: trộm cắp, cướp bóc, giết người...
Khi Diêm chúa thấy người ấy, bèn nói với họ rằng: "Này người kia! Bây giờ ta sẽ hỏi, khi còn ở trên cõi người, ngươi có từng thấy một đứa trẻ mới sinh ra nằm trên vật nhơ nhớp chăng?
Chúng sinh tội phạm đáp rằng: Tôi từng thấy.
Diêm vương hỏi tiếp rằng: Khi ngươi thấy đứa bé mới sinh ra như vậy, ngươi có nghĩ rằng: ta đây vẫn còn phải tái sinh nữa, vậy ta phải cố gắng bố thí, trì giới, tu tiến để thoát khỏi sự sinh, khổ do sinh ấy?
Chúng sinh địa ngục ấy, sau khi nghe câu hỏi của Diêm chúa như thế rồi, nếu ngay lúc ấy nhớ lại được thiện sự, thì sẽ thoát khỏi địa ngục ngay và sẽ được sinh lên cõi người hoặc Thiên giới. Nếu trong khi ấy không nhớ được thiện sự, thì đáp rằng: tôi từng thấy đứa bé sinh ra thật, nhưng tôi không có suy nghĩ gì, ngoại trừ thỏa thích vui mừng theo thường tình của thế gian thôi.
Diêm vương bèn phán rằng: "Nếu vậy, đây chính là sự dể duôi của ngươi mặc dầu ngươi đã thấy sự sinh như vậy mà ngươi vẫn vui mừng thoả thích. Sự vui mừng và dễ duôi này khởi lên từ nơi ngươi, không phải do cha mẹ, vợ con, anh em hay bạn bè, thầy tổ hoặc Chư Thiên làm cho ngươi. Vậy chính ngươi phải thọ nhận quả báo mà ngươi đã làm, không có ai thọ nhận thay ngươi được, ngươi đã hành động như thế nào, ngươi sẽ nhận lãnh quả báo như thế ấy".
Rồi Diêm Vương phán tiếp rằng: "Vậy người có từng thấy người già, người bệnh, người chết và kẻ tội phạm chăng?".
Chúng sinh địa ngục ấy đáp rằng: "tôi từng thấy"
Diêm vương phán hỏi tiếp rằng: lúc ngươi thấy người già, người bệnh, người chết hoặc kẻ tội phạm. Ngươi có suy nghĩ rằng chính ta đây cũng bị già, bệnh và chết, ta hãy tinh cần bố thí, trì giới, tu tiến để làm chỗ nương tựa cho chính mình và có thể giúp mình thoát khỏi các sự đau khổ ấy chăng?
Chúng sinh địa ngục ấy, sau khi nghe phán hỏi lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm. Nếu nhớ được thiện sự thì sẽ trả lời giống như câu trả lời trong Thiên Sứ thứ nhất.
Đối với những người nào, sau khi làm các thiện sự, có hồi hướng phước cho Diêm Vương, sẽ được Diêm Vương cố gắng giúp cho người ấy nhớ lại các Thiên sứ ấy. Vậy người, sau khi tạo phước bố thí, trì giới hay tu tiến rồi, hãy hồi hướng phước báu đến Diêm Vương. Diêm vương sẽ nhớ được, vì đã từng nhận phước nơi người ấy. Nếu người nào sau khi bố thí, trì giới, tu tiến nhưng không có hồi hướng phước đến Diêm chúa. Diêm Vương không thể nhớ được thiện sự của người ấy. Sau khi Diêm Vương gợi ý, mà người ấy vẫn không nhớ được, vẫn ngồi im lặng. Bấy giờ, các cai ngục đem người ấy ra hành tội tùy theo ác nghiệp mà người đó đã làm.
Nếu Diêm Vương nhớ được thiện nghiệp của người ấy, thì sẽ nói lên, người ấy nghe Diêm Vương nói lên như vậy, cũng nhớ được rằng: "ta đã từng bố thí, trì giới, tu tiến như vầy... như vầy... ngay lúc nào nhớ được thiện nghiệp của mình, liền khi đó, người ấy thoát khỏi địa ngục".
Vậy việc nhắc nhở, gợi ý của Diêm Vương là nhân, việc nhớ được thiện nghiệp của mình là quả. Việc nhớ lại được thiện nghiệp của mình là nhân, việc thoát khỏi địa ngục ấy là quả.
Vậy ai sẽ giúp chúng sinh đó tránh và thoát khỏi cảnh khổ của nghiệp báo? Xin thưa là đã tạo rồi thì nghiệp báo theo liền mình như bóng với hình, có lên vũ trụ hay lặn xuống đáy biển cũng không thoát được việc phải nhận báo ứng do mình đã tạo trữ, chỉ khi nào hết trả nghiệp thì mới có thể tái sinh cảnh mới. Cả Diêm Chúa cũng không giải được bóng ma nghiệp báo của chúng sinh huống chi mấy ông thầy cúng, thầy bói luôn hùng hồn tuyên bố mình có thể "mở cửa phá ngục"
Xin trở lại với việc chúng sinh trong cõi khổ có thể nhận được những gì từ chúng ta? Do thân xác họ là vi tế nên họ không mong cầu những vật thực thô trược như chúng ta dùng, họ chỉ khát khao được tăng trưởng phước thiện để thoát khỏi cảnh khổ mà thôi. Phước thiện họ cần chính là từ sự bố thí cúng dường.
Chúng ta được sinh làm người, có cơ hội làm phước thiện bố thí, còn các chúng sinh khác khó có cơ hội bố thí. Cho nên, ta nên tìm cơ hội tốt để làm phước thiện bố thí, rồi hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho thân quyến của chúng ta chịu đói khát, khổ cực trong hàng ngạ quỷ; họ lúc nào cũng trông ngóng đến sự hồi hướng phước thiện của thân quyến. Khi họ hay biết, hoan hỉ phần phước thiện mà chúng ta hồi hướng đến cho họ, chắc chắn họ thoát ra khỏi kiếp ngạ quỷ đói khát, do nhờ phước thiện ấy cho quả được tái sanh cõi thiện giới: cõi trời, cõi người.
BỐ THÍ VÀ HỒI HƯỚNG
Thí chủ làm phước thiện bố thí xong, thường hồi hướng phần phước thiện bố thí ấy đến người thân yêu đã quá vãng nào đó.
Ví dụ: "Con xin hồi hướng phần phước thiện bố thí thanh cao này đến cho cha con là Nguyễn Văn A. Cầu mong cha con hoan hỉ phần phước thiện thanh cao này, được thoát khỏi cảnh khổ, được an lạc lâu dài...".
Như vậy, thử hỏi ông "A" có thọ hưởng phần phước thiện, mà người con hồi hướng đến cho ông được hay không?
Ðể trả lời câu hỏi này, trước hết nên tìm hiểu 3 vấn đề:
1 - Dānakusala: phước thiện phát sanh do bố thí: thí chủ sử dụng của cải của mình đem bố thí đến cho người khác, để tạo được phước thiện bố thí của mình.
2 - Pattidānakusala: phước thiện phát sanh do hồi hướng: sau khi thí chủ đã tạo được phước thiện bố thí xong rồi, đem phần phước thiện ấy xin hồi hướng đến người đã quá vãng nào đó (ví như ông, bà, cha, mẹ,v.v...).
3 - Pattānumodanākusala: phước thiện phát sanh do hoan hỉ phần phước thiện mà người thí chủ hồi hướng: những chúng sinh hay biết, hoan hỉ phần phước thiện của thân quyến hồi hướng đến họ.
Trường hợp ông A không phải là bậc Thánh Arahán, nên còn phiền não, tham ái vẫn còn tái sanh kiếp sau như thế nào, hoàn toàn tùy theo thiện nghiệp hoặc ác nghiệp của ông A cho quả tái sanh. Như vậy, ông A có thọ hưởng được phần phước thiện bố thí của thân quyến hồi hướng đến cho ông hay không?
Muốn biết vấn đề phước thiện bố thí và hồi hướng phần phước thiện đến cho người quá vãng, họ có thọ hưởng được hay không?
Chúng ta cùng tìm hiểu bài kinh "Jāṇusasoṇīsutta" (Aṅguttaranikāya, phần Dasakanipāta, kinh Jānusasoṇīsutta). Trong bài kinh này, có đoạn ông Bà la môn Jāṇusasoṇī đến hầu đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bèn bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Sa môn Gotama, chúng con là Bà la môn thường bố thí rồi hồi hướng đến những người quá vãng rằng: "phần phước thiện bố thí này, cầu mong cho được thành tựu đến thân quyến đã quá vãng, mong thân quyến quá vãng ấy hoan hỉ thọ hưởng phần phước thiện bố thí này".
Kính bạch Ðức Sa môn Gotama, phần phước thiện bố thí này, có thể thành tựu đến thân quyến đã quá vãng của chúng con được hay không?
Thân quyến đã quá vãng của chúng con có hoan hỉ thọ hưởng phần phước thiện bố thí của chúng con được hay không? Bạch Ngài.
Ðức Phật giải đáp rằng:
- Này Bà la môn, phần phước thiện bố thí được thành tựu tùy theo loại chúng sinh này; không được thành tựu tùy theo loại chúng sinh khác.
- Kính bạch Ðức Sa môn Gotama, loại chúng sinh nào được thành tựu? Loại chúng sinh nào không thành tựu? Bạch Ngài.
- Này Bà la môn, có số người trong đời này, là người không có giới, thường sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích, có tánh tham lam của người khác, có tánh thù hận, có tà kiến; người ấy sau khi chết, do ác nghiệp cho quả tái sanh làm chúng sinh trong cõi địa ngục, chúng sinh trong cõi địa ngục sống tồn tại bằng vật thực ở địa ngục.
Này Bà la môn, phần phước thiện bố thí không thành tựu đến chúng sinh ở địa ngục.
Này Bà la môn, có số người trong đời này, là người sát sanh, trộm cắp, tà dâm... có tà kiến; người ấy sau khi chết, do ác nghiệp cho quả tái sanh làm súc sanh, loài súc sanh sống tồn tại bằng vật thực riêng của mỗi loài.
Này Bà la môn, phần phước thiện bố thí không thành tựu đến loài súc sanh.
Này Bà la môn, có số người trong đời này là người có giới, tránh xa sự sát sanh, tránh xa sự trộm cắp, tránh xa sự tà dâm, tránh xa sự nói dối, tránh xa sự nói lời đâm thọc, tránh xa sự nói lời thô tục, tránh xa sự nói lời vô ích, tâm không tham lam của người khác, tâm không thù hận, có chánh kiến; người ấy sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sanh trở lại làm người, con người sống tồn tại bằng vật thực của cõi người.
Này Bà la môn, phần phước thiện bố thí không thành tựu đến chúng sinh tái sanh trở lại làm người.
Này Bà la môn, có số người trong đời này là người có giới, tránh xa sự sát sanh, tránh xa sự trộm cắp..., có chánh kiến; người ấy sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sanh làm chư thiên, chư thiên trong cõi trời, sống tồn tại bằng vật thực trong cõi trời.
Này Bà la môn, phần phước thiện bố thí cũng không thành tựu đến chư thiên trong cõi trời.
Này Bà la môn, có số người trong đời này, là người không có giới, thường sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích, có tánh tham lam, có tánh thù hận, có tà kiến; người này sau khi chết, do ác nghiệp cho quả tái sanh làm loài ngạ quỷ, ngạ quỷ sống tồn tại bằng vật thực của hàng ngạ quỷ. Hàng ngạ quỷ này thường trông ngóng thân quyến trong cõi người hồi hướng phước thiện đến cho họ, khi họ hay biết hoan hỉ phần phước thiện ấy, họ thọ hưởng được, chắc chắn họ thoát khỏi cảnh khổ, tái sanh cõi thiện giới hưởng được mọi sự an lạc.
Này Bà la môn, phần phước thiện bố thí chỉ có thể thành tựu đến cho loài ngạ quỷ mà thôi.
Khi lắng nghe Ðức Phật giải đáp như vậy, ông Bà la môn bạch tiếp rằng:
- Kính bạch Sa môn Gotama, nếu thân quyến đã quá vãng ấy không thọ hưởng được phần phước thiện bố thí hồi hướng ấy, vậy ai thọ hưởng phần phước thiện ấy? Bạch Ngài.
-Này Bà la môn, hàng ngạ quỷ thân quyến khác của thí chủ, thọ hưởng được phần phước thiện hồi hướng ấy.
- Kính bạch Sa môn Gotama, nếu thân quyến đã quá vãng không có trong hàng ngạ quỷ, thì ai là người thọ hưởng phần phước thiện hồi hướng ấy? Bạch Ngài.
- Này Bà la môn, trong vòng tử sanh luân hồi trải qua vô số kiếp của mỗi chúng sinh trong quá khứ, không có người thân quyến tái sanh làm ngạ quỷ, đó là điều không thể có được, (chắc chắn có thân quyến sanh làm ngạ quỷ).
Ðiều chắc chắn thí chủ là người được phần phước thiện bố thí ấy và thọ hưởng quả báu của phước thiện bố thí ấy.
- Kính bạch Sa môn Gotama, Ngài có hạn chế những chúng sinh không thọ hưởng được phước thiện bố thí hay không?
- Này Bà la môn, Như Lai có hạn chế chúng sinh.
Này Bà la môn có số người trong đời này, là người không có giới, thường sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích, có tánh tham lam, có tánh thù hận, có tà kiến; nhưng người ấy thường bố thí cơm, nước, vải, xe cộ, hoa quả, vật thơm, vật thoa, chỗ nằm, chỗ ở, đèn đến Sa môn, Bà la môn; người ấy sau khi chết, do ác nghiệp cho quả dầu tái sanh làm con voi; trong kiếp voi ấy, được nuôi nấng chăm sóc chu đáo, có đầy đủ vật thực, nước uống ngon lành, có chỗ ở sạch sẽ, đồ trang sức đẹp đẽ... do quả của phước thiện bố thí trong kiếp trước.
Này Bà la môn, có số người trong đời này là người không có giới, thường sát sanh, trộm cắp... có tà kiến, nhưng người ấy thường bố thí cơm, nước, vải, xe cộ, hoa quả, vật thơm, vật thoa, chỗ nằm, chỗ ở, đèn đến Sa môn, Bà la môn; người ấy sau khi chết, do ác nghiệp cho quả dầu tái sanh làm chó; trong kiếp chó ấy, được nuôi nấng làm chu đáo, có đầy đủ vật thực, nước uống ngon lành, có chỗ ở sạch sẽ, đồ trang sức đẹp đẽ... do quả của phước thiện bố thí trong kiếp trước. (Tái sanh làm con ngựa, con bò.... v.v...).
Này Bà la môn, có số người trong đời này là người có giới, tránh xa sự sát sanh, tránh xa sự trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích, có tánh tham lam, có tánh thù hận, có chánh kiến; người ấy thường bố thí cơm, nước, vải, xe cộ, hoa quả, vật thơm, vật thoa, chỗ nằm, chỗ ở, đèn đến Sa môn, Bà la môn. Người ấy sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sanh trở lại làm người; trong kiếp người, là người giàu sang, phú quý, có chức cao, quyền lớn, sung túc đầy đủ ngũ trần trong đời, phát sanh do quả báu của phước thiện bố thí trong kiếp quá khứ.
Này Bà la môn, có số người trong đời này, là người có giới, tránh xa sự sát sanh, tránh xa sự trộm cắp... có chánh kiến; người ấy thường bố thí cơm, nước, vải, xe cộ, hoa quả, vật thơm, vật thoa, chỗ nằm, chỗ ở, đèn đến Sa môn, Bà la môn. Người ấy sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sanh làm chư thiên; trong kiếp chư thiên trong cõi trời, là chư thiên có nhiều oai lực, hưởng mọi sự an lạc cao quý trong cõi trời ấy, do phước thiện bố thí, đã tạo trong kiếp quá khứ.
Này Bà la môn, chính thí chủ là người có phước thiện bố thí và hưởng quả báu của phước thiện bố thí ấy.
- Kính bạch Sa môn Gotama, thật phi thường! Chưa từng nghe bao giờ!
Kính bạch Sa môn Gotama, như vậy, thật ra nên bố thí bằng đức tin trong sạch, phước thiện bố thí không chỉ có quả báu cho chính mình, mà còn hồi hướng đến người khác, khi biết hoan hỉ họ cũng thọ hưởng được quả báu của phước thiện này nữa.
Kính bạch Sa môn Gotama, lời dạy của Ngài rõ ràng quá!......".
Qua bài kinh này, chúng ta hiểu được rằng: thí chủ làm phước thiện bố thí rồi hồi hướng riêng đến thân quyến đã quá vãng nói riêng, có ý chỉ định đến một chúng sinh nào đó, thì điều ấy không chắc chắn, bởi vì, chúng sinh ấy có hay biết được thân quyến hồi hướng phần phước thiện bố thí đến cho mình hay không?
- Nếu chúng sinh ấy biết được mà hoan hỉ thì thọ hưởng được phần phước thiện ấy.
- Nếu chúng sinh ấy không hay biết, không hoan hỉ, thì không thọ hưởng được phần phước thiện ấy.
- Còn thí chủ làm phước thiện bố thí rồi, xin hồi hướng chung đến những thân quyến đã quá vãng nói chung, không có ý định chỉ định đến chúng sinh nào, điều ấy chắc chắn thân quyến của thí chủ thọ hưởng được phần phước thiện bố thí ấy. Bởi vì, trong vòng tử sanh luân hồi vô số kiếp của mỗi chúng sinh, chắc chắn có thân quyến tái sanh trong hàng ngạ quỷ. Nếu họ hoan hỉ thọ hưởng được phần phước thiện của thí chủ hồi hướng, thì họ thoát khỏi cảnh khổ, được tái sanh cõi thiện giới an lành, hưởng được mọi sự an lạc.
Ngoài ra, các chúng sinh khác không hay biết, không hoan hỉ phần phước thiện bố thí của thí chủ hồi hướng, thì không thọ hưởng được phần phước thiện bố thí ấy.
Đức Phật có dạy trong Kinh Tirokuṇṇapetavtthu, Khuddakanikāya, bộ Petavatthu rằng khi thí chủ tạo được phước thiện nào xong rồi, nên đọc câu hồi hướng rằng: "Idaṃ no ñātīnaṃ hotu, Sukhitā hontu ñātayo...".
"Cầu mong phước thiện này, Thành tựu đến tất cả, Thân quyến của chúng tôi.
Cầu mong họ hoan hỉ, Ðược an lạc lâu dài".
Như vậy, thân quyến ngạ quỷ đang đứng trông chờ hoan hỉ phần phước thiện mà thân quyến đã hồi hướng, ngay khi ấy, do năng lực phước thiện cho quả, họ được thoát khỏi kiếp sống ngạ quỷ đói khát, được chuyển kiếp tái sanh làm chư thiên, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời.
LỜI HỒI HƯỚNG
Tất cả chúng sinh trong ba giới bốn loài, chỉ có loài người trong cõi Nam thiện bộ châu này có được thuận lợi tạo mọi phước thiện, nhất là phước thiện bố thí. Ngoài ra, các chúng sinh còn lại và các cõi khác, khó có cơ hội tạo phước thiện bố thí. Chư thiên muốn tạo phước thiện bố thí cần phải hiện xuống cõi người, biến hóa thành con người mới có thể tạo phước thiện bố thí.
Như vậy, chúng ta đã là con người trong cõi Nam thiện bộ châu này, có điều kiện và cơ hội tạo nên được phước thiện bố thí, thì chúng ta nên có tâm từ, tâm bi quan tâm đến những chúng sinh khác, họ không phải ai xa lạ, họ chính là những người thân bằng quyến thuộc của chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ và kiếp hiện tại.
Ðức Phật dạy: "Không thấy một chúng sinh nào không từng là thầy, tổ, ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, chú, bác, cô, dì, bà con thân bằng quyến thuộc... của chúng ta".
Như vậy, tất cả chúng sinh đều là những người thân quyến của chúng ta gần kiếp này, hoặc xa trong những kiếp quá khứ. Nay chúng ta có điều kiện, có cơ hội tạo nên phước thiện bố thí, thì ta nên hồi hướng, ban bố, phân phát... phần phước thiện bố thí này đến cho tất cả chúng sinh, thân bằng quyến thuộc của chúng ta. Có số chúng sinh đang sống trong cảnh khổ, đang khao khát, trông ngóng, chờ đợi phần phước thiện của thân quyến hồi hướng, nếu họ hay biết mà hoan hỉ phần phước thiện ấy, ngay tức khắc, họ thoát khỏi cảnh khổ, được tái sanh lên cõi thiện giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi ấy.
Muốn vậy, chúng ta cần phải thành tâm hồi hướng và có lời hồi hướng như sau:
Ðọc câu Pāḷi: "Idaṃ no ñātīnaṃ hotu, Sukhitā hontu ñātayo..."
Hoặc bằng tiếng Việt:
Hôm nay, chúng con đã tạo mọi phước thiện như bố thí, thọ trì Tam quy, giữ giới, nghe pháp, hành thiền.... Chúng con thành tâm hồi hướng phần phước thiện này đến tất cả chư thiên, nhất là chư thiên hộ trì mỗi người chúng con, chư thiên ở tại nơi đây, chư thiên ở trong nhà, chư thiên ở trong tỉnh, thành, chư thiên ở trong nước, chư thiên ở ngoài nước và toàn thế giới, chư thiên ở trên mặt đất, chư thiên ở cội cây, chư thiên ở trên hư không;
- Tứ Ðại Thiên Vương: đức vua Dhataraṭṭha, đức vua Viruḷhaka, đức vua Virūpakkha, đức vua Kuvera cùng tất cả chư thiên trong cõi Tứ đại thiên vương thiên.
- Ðức vua trời Sakka cùng tất cả chư thiên trong cõi Tam thập tam thiên.
- Ðức vua trời Suyāma cùng tất cả chư thiên trong cõi Dạ ma thiên.
- Ðức vua trời Santussita cùng tất cả chư thiên trong cõi Ðâu xuất đà thiên.
- Ðức vua trời Sunimmita cùng tất cả chư thiên trong cõi Hoá lạc thiên.
- Ðức vua trời Paranimmita cùng tất cả chư thiên trong cõi Tha hóa tự tại thiên. v.v....
Xin quý vị chư thiên hoan hỉ thọ hưởng phần phước thiện thanh cao này của chúng con đồng nhau cả thảy, làm cho tăng thêm sự an lạc lâu dài. – Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay!
Chúng con thành tâm hồi hướng đến những ân nhân đã quá vãng như tổ tiên, thầy tổ, ông bà, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, bè bạn... từ kiếp hiện tại cho đến vô lượng kiếp trong quá khứ, nhất là ... [tên người vừa quá vãng hoặc người đang nhớ đến trong ngày làm phước thiện này ...] đã quá vãng. Xin quý vị hoan hỉ thọ hưởng phần phước thiện thanh cao này của chúng con đồng nhau cả thảy. Cầu mong quý vị giải thoát mọi cảnh khổ, được an lạc lâu dài. – Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay!
Chúng con thành tâm chia phần phước thiện thanh cao này đến những ân nhân còn sống như: ông bà, cha mẹ, thầy tổ, anh chị em, con cháu, bà con thân bằng quyến thuộc, bè bạn.... Mong quý vị hoan hỉ thọ hưởng phần phước thiện thanh cao này của chúng con đồng nhau cả thảy, cầu mong quý vị thân tâm thường được an lạc, tiến hóa trong mọi thiện pháp. – Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay!
Chúng con thành tâm hồi hướng phần phước thiện thanh cao này đến chúng sinh trong địa ngục, các hàng atula, các hàng ngạ quỷ, các loại súc sanh, đặc biệt đến chúa địa ngục Yāma. Mong quý vị hoan hỉ, thọ hưởng phần phước thiện thanh cao này của chúng con đồng nhau cả thảy, cầu mong quý vị thoát khỏi cảnh khổ, được tái sanh nơi cõi thiện giới cho được an lạc. – Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay!
Chúng tôi thành tâm hồi hướng đến tất cả 4 loài chúng sinh trong tam giới gồm có 31 cõi. Cầu mong tất cả chúng sinh hoan hỉ thọ hưởng phần phước thiện thanh cao này của chúng tôi đồng nhau cả thảy, cầu mong tất cả chúng sinh giải thoát mọi cảnh khổ, được an lạc lâu dài, tiến hóa trong mọi thiện pháp làm duyên lành trên con đường giải thoát khỏi khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài. – Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay!
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét